User Menu

  • Chương 3
    Chúa trên hết
    Bạn đọc ắt sẽ ngạc nhiên khi tôi tập trung vào đức tin của gia đình Martin trước khi xem qua
    cuộc sống gia đình và công việc. Tuy nhiên, khi làm như thế, chúng tôi đang theo “tinh thần” của
    nhà Martin, vốn có thể gói gọn trong ba chữ: “Chúa trên hết.” Thật không thể nào hiểu được các
    khía cạnh sống khác của nhà Martin mà không quy chiếu về nguồn hướng dẫn họ trong mọi sự.
    Mục đích của Louis và Zélie Martin, giấc mơ tuổi trẻ, và những gì hai người theo đuổi suốt cả
    đời, chính là sự thánh thiện. “Tôi muốn làm thánh,” Zélie đã xác quyết như thế, còn Louis thì
    tâm tình với các cô con gái, “Phải, cha có một mục đích, đó là yêu Chúa hết lòng.” Với những
    người thời đó, thánh thiện nghĩa là gì? Cách tốt nhất để nên thánh là theo đời sống thánh hiến,
    hoặc làm các phép lạ, hoặc chết tử đạo, hoặc cả ba điều trên. Nhờ người con gái của nhà Martin
    và Công đồng Vatican II, mà chúng ta được nhắc nhở rằng: mọi người đều có thể và đều cần phải
    nên thánh. Nhưng ngay cả thời nay, mọi người vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng về ý thức này.
    Ông bà Louis và Zélie là minh chứng cho thấy có thể nên thánh qua đời sống vợ chồng. Nếu
    trong cơn sốt mến tuổi trẻ, hai người lúc đầu hướng đến lý tưởng đời sống thánh hiến, nhưng dần
    dần họ học biết được nhờ ơn Chúa rằng: sự thánh thiện không chỉ hệ tại ở tình trạng sống, nhưng
    là ở nơi lời đáp tín thác và yêu thương với tiếng gọi của Chúa trong đời sống hằng ngày. Trong
    đời sống thường nhật, nơi niềm vui và thập giá đan xen lẫn nhau, ông bà Martin trao trọn bản
    thân cho Chúa và tha nhân, bỏ mình để vâng theo ý Chúa trong mọi sự. Họ được nên thánh theo
    một cách khác với hình mẫu hạnh các thánh thời đó. Sự thánh thiện của họ gắn liền với thực tế
    và thường nhật, điều mà Giáo hội ngày nay đang đề cao.
    Lòng khát khao nên thánh của vợ chồng nhà Martin, không phải kiểu ý muốn thất thường. Để
    nên thánh, hai người không bỏ lỡ khí cụ nào trong tầm tay, đặc biệt là các khí cụ nên thánh khả
    dụng cho mọi người Công giáo, là các bí tích, cầu nguyện, và đời sống giáo xứ.
    Trước hết, Phép Thánh Thể là trung tâm đời sống của họ và cũng là hoạt động đầu tiên trong mỗi
    ngày sống. Thời đó, rước Mình Thánh Chúa trong thánh lễ không phải là điều hiển nhiên như
    bây giờ. Để rước Mình Thánh Chúa trong ân sủng, chắc chắn cần có xưng tội đều đặn và trung
    thành theo các giới răn của Chúa, nhưng thời đó ý thức đón nhận Chúa Kitô cho xứng đáng được
    đẩy lên cực độ và khiến cho nhiều người bị mất đi ơn rước Chúa hằng ngày. Đói khát Mình
    Thánh Chúa vô cùng, Louis và Zélie rước lễ thường xuyên hết sức có thể: mỗi tuần ít nhất một
    lần hay nhiều hơn, và trong mọi ngày thứ sáu đầu tháng. Thánh lễ ban sáng lúc năm giờ rưỡi,
    Louis và Zélie là những người đến nhà thờ sớm nhất. Cứ đến giờ là họ tự động thức dậy, như có
    đồng hồ hẹn giờ vậy. Khi hàng xóm nghe tiếng đóng cửa đầu tiên trong dãy phố, họ biết ngay,
    “Vợ chồng Martin đi nhà thờ đó, vậy thì chúng ta vẫn còn thời gian để ngủ tiếp.” Tham dự thánh
  • lễ không hẳn là bổn phận cho bằng là một thời gian đặc ân trong cuộc sống Kitô hữu của hai
    người.
    Trên hết, được rước Mình Thánh Chúa cho họ niềm vui, và hai ông bà đã truyền sự say mê này
    cho con cái từ tuổi nhỏ. “Trong vài tuần qua, chúng ta đã đưa con bé [Têrêsa bé nhỏ] đi chơi
    ngày chúa nhật. Bé đã không được đến Matthe (nhà thờ) theo cách gọi của bé. Về đến nhà sau
    khi đi dạo, bé kêu thét và nói rằng muốn đến Matthe. Bé mở cửa và chạy mặc kệ trời mưa như
    thác, hướng thẳng về phía nhà thờ. Chúng tôi chạy theo để đưa bé về nhà, và bé khóc suốt cả
    tiếng đồng hồ. . . . Lúc trong nhà thờ, bé nói to rằng, “Con chỉ đến Matthe. Con cầu nguyện với
    Chúa.”
    Tham dự thánh lễ không chỉ là một lệ thường, nhưng là một điều thiết yếu sống còn với vợ
    chồng Martin, một tĩnh dưỡng và lễ hội, dù cho họ cũng ý thức được là có những mệt nhọc và lo
    lắng. “Sáng nay, chị vừa gật gà vừa thay đồ, chị gần như vừa ngủ vừa đi, chị cũng mơ ngủ trong
    thánh lễ, lúc quỳ, đứng, ngồi và cả lúc cầu nguyện.” Một lần khác, Zélie cho biết, “Có bài giảng,
    nhưng chị không chắc là đang giảng gì, bởi chị đang miệt mài với những suy nghĩ của chị.” Sự
    xao nhãng và mơ ngủ không phải hiếm với Zélie, nhưng ơn Chúa vẫn hoạt động trong thánh lễ,
    và bà cảm nhận được dù không có những tình cảm xuất thần. “Sáng nay, trong thánh lễ, chị đã có
    những suy nghĩ tăm tối về chuyện này [sợ mất đứa con mới sinh] và chị cực kỳ đau đớn,” tuy
    nhiên, khi tả về hoa trái của thánh lễ, bà thêm rằng, “Điều tốt nhất nên làm là đặt mọi sự vào tay
    Chúa và bình tâm chờ đợi mọi sự xảy đến theo ý Ngài.”
    Sự thánh thiện của vợ chồng Martin gắn liền với Phép Thánh Thể, và được biểu lộ nơi tầm quan
    trọng mà họ ý thức, chứ không phải nơi những tình cảm sốt mến nhìn thấy được. Chúng ta thấy
    Phép Thánh Thể quan trọng thế nào với hai người, trong sự chuẩn bị nồng nhiệt trước mỗi lúc
    chuẩn bị rước lễ, cho mình và cho cả các con. Họ không ngần ngại tách mình khỏi con gái
    Leonie, bằng cách gởi bé đến trường nội trú ở Tu viện Đức Mẹ Đi viếng, với một mục đích duy
    nhất là để cô bé chuẩn bị thật tốt cho Rước lễ lần đầu. Chuẩn bị để đón Chúa cần đến tất cả mọi
    khí cụ nhỏ trong cuộc sống thường nhật - theo Zélie, “Cần có sự chuẩn bị không ngừng trong
    suốt mọi ngày” - cũng như cần đến các phương thức hệ trọng hơn nữa. “Chị đưa bé [Leonie] đi
    hành hương Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội ở Seez, hôm thứ ba tuần trước, để bé có
    thể được ơn mà Rước lễ lần đầu cho thật tốt.” Zélie biết rằng đón nhận sự chuẩn bị này tự thân
    đã là một ơn, và bà tạ ơn Chúa thiết tha khi thấy Leonie chuẩn bị với hết lòng sốt sắng. Bà không
    gắn sự chuẩn bị này với tác động ân sủng qua mỗi lần rước lễ, tuy nhiên: “Sáng nay, chị dự ba
    thánh lễ. Chị đi lễ lúc sáu giờ sáng, rồi dâng lời tạ ơn và cầu nguyện theo ý mình trong thánh lễ
    lúc bảy giờ, rồi trở lại dự Lễ chính ngày.”
    Thánh lễ là ưu tiên hàng đầu, nên mọi hoạt động khác được sắp xếp tùy theo việc đi lễ. Cần có
    những chuẩn bị khác nữa, và chúng ta hẳn sẽ ngưỡng mộ cách chuẩn bị cẩn thận của bà Zélie
  • trước khi rước lễ. “Pauline yêu dấu của mẹ, khi con về nhà sẽ khó hơn, con thích đi ngủ trễ và
    nướng thêm ban sáng. ... Mẹ sẽ tìm ra cách để cả hai con [Marie và Pauline] đi lễ theo các giờ
    khác nhau. Nếu lúc đó mẹ không còn làm đăng-ten Alecon, thì sẽ rất đơn giản, nhưng không
    được vậy, nên mẹ đang rất băn khoăn. Được rồi, chúng ta sẽ tìm ra cách mà.” Cả hai ông bà đều
    giữ lòng trung thành với Bí tích Thánh Thể đến mức độ anh hùng, ngay cả trong cơn hấp hối, hai
    người vẫn dành hết sức lực cuối cùng để rước Mình Thánh Chúa dù cho đau đớn. Ông bà Martin
    không đi lễ như kiểu “khách hàng” nhưng với một lòng tôn kính cực độ của những người hiểu và
    yêu mến bí tích cực trọng, mầu nhiệm Thiên Chúa hạ mình trao thân Ngài cho chúng ta.
    Nhận thức Bí tích Thánh Thể là lời cầu nguyện mạnh nhất, hai người luôn luôn cậy dựa vào
    Mình Thánh Chúa cho cuộc sống lẫn giờ chết của mình. Bà Zélie, với một chút hài hước, đã bảo
    em trai là các bài thi của cậu qua được là nhờ bà đã đi lễ cầu nguyện cho. Thay vì hoa, gia đình
    Martin thường dâng thánh lễ cầu nguyện cho người đã khuất, và mọi ý định quan trọng họ đều
    phó thác lên bàn tiệc thánh. Với một nhóm bạn ở Alecon, ông Louis cũng dự buổi Chầu Thánh
    Thể Đêm hàng tháng, và thật ý nghĩa với bản thân ông khi chính ông là người tổ chức Chầu
    Thánh Thể Đêm ở Lisieux.
    Nhà Martin tôn kính hết mực mọi bí tích. Họ mong muốn cho con cái mới sinh được rửa tội ngay
    tức thì. Từ đáy lòng, hai người tin rằng phép rửa tội đem lại ơn cứu độ cho linh hồn, khi đứa trẻ
    mới sinh được đi qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, và với hai người đây còn giá trị
    hơn cả cuộc đời của bé. Thiên Chúa luôn luôn trước hết và trên hết. Và họ vui mừng khi được
    phát hơn hai cân nến thơm cho mọi đứa trẻ cùng hiện diện trong niềm vui rửa tội này.
    Ông Louis và bà Zélie xưng tội đều đặn và xem Bí tích Hòa giải là khí cụ đặc ân của lòng thương
    xót Chúa, chứ không phải là gánh nặng.
    Cả hai người đều gắn kết chặt chẽ với giáo xứ của mình. Môi trường Công giáo ở Alencon cùng
    với bối cảnh bài giáo sỹ mang tính chính trị gây ra sự lẫn lộn giữa lợi ích quốc gia và lợi ích
    thiêng liêng. Nhìn chung, sống đức tin Kitô thời đó hầu như mang tính bên ngoài, hơn là một
    thực tế nội tâm. Nhưng, vợ chồng nhà Martin, trong khi luôn xác quyết đức tin của mình, lại
    không bao giờ sa vào những cuộc tranh cãi, và chỉ đơn giản tham gia các hoạt động thông lệ
    trong giáo xứ. Họ dự các lễ nghi phụng vụ, rước kiệu, tĩnh tâm và các buổi hội truyền giáo mà
    không cần cân đo đong đếm người giảng. “Tám ngày qua, ở chỗ chị có hai nhà truyền giáo,
    giảng ba bài mỗi ngày. Theo chị thì không ai giỏi hơn ai. Nhà chị đi nghe giảng vì bổn phận, và ít
    nhất với chị, thì đây cũng là một việc đền tội thêm.” Zélie vẫn có một tinh thần phê phán, nhưng
    bà luôn nhìn về khía cạnh tốt nhất của mọi sự.
    Ngày thứ bảy, cả nhà đi dự thánh lễ chính, kinh chiều, và có khi là các buổi kinh nhật tụng ban
    tối. Louis và Zélie cảm mến các nghi thức phụng vụ đẹp đẽ. Zélie có lần thất vọng với một buổi
    nghi lễ tháng năm, bà viết: “Nhà chị nghe những bài hát không chấp nhận nổi, như thể tiềng bồ
    câu gù gù chẳng ai hiểu gì, giống như đang ở quán càphê chơi nhạc vậy, làm chị thấy thật phiền.
    Thời trước, lời hát sốt sắng hơn nhiều, nên bây giờ có vẻ như chúng ta hơi bị cấp tiến.” - một suy
    nghĩ khá giống với nhiều người thời nay!
    Ông bà Louis và Zélie gia nhập nhiều hiệp hội sốt sắng, và cũng đăng ký cho con cái mình nữa.
    Các hiệp hội và hội huynh đệ này, hàng tháng nhóm họp để cầu nguyện theo các ý xin nhất định.
    Bà Zélie nói rằng bà không phải lúc nào cũng trung thành hết các bổn phận này, nhưng không
    ngừng cố gắng để chu toàn. Bà cũng đến thăm tu viện của các xơ Dòng Clara Hèn mọn kế cận để
    xin lời khuyên và cầu nguyện. Là thành viên Dòng Ba Phanxicô, bà khá hợp với linh đạo của il
    Poverello (thánh Phanxicô thành Assisi) và sự tự tại vui tươi của thánh nhân đã giúp bà tránh
    được những khắc nghiệt trong đức tin mà bà nhận từ cha mẹ mình, bà cũng đi hội họp với các
    thành viên Dòng Ba. Bà Zélie phấn khởi nói rằng cách nhìn đơn sơ của một thầy dòng Phanxicô
    đã biến đổi bà, nên bà không ngần ngại cứ mỗi hai tuần lại dậy từ lúc bình minh để đến dự buổi
    giảng thuyết của dòng Phanxicô, ngay cả lúc đang bị sốt hay áp lực công việc. Để chia sẻ tình
    thân mà vợ dành cho gia đình dòng Phanxicô, ông Louis có cách riêng của mình, là đem hết số
    cá ông câu được tặng cho các xơ Clara Hèn mọn.
    Với gia đình Martin, cầu nguyện không chỉ có nghĩa trong phạm vi nhà thờ. Nghề nghiệp mang
    tính thinh lặng và cô tịch của cả hai người rất thuận tiện cho sự tĩnh trí, và nhịp điệu một ngày
    sống được định hình qua nhiều lần cầu nguyện. Thánh lễ vào ban sáng, phép lành Mình Thánh
    Chúa, cầu nguyện trước mỗi bữa ăn, và mỗi tối cả gia đình cùng đọc kinh chung. Khi con cái đã
    đi ngủ, những công việc cuối cùng trong ngày cũng xong, ông bà Louis và Zélie dâng thời gian
    cuối cùng trong ngày cho Chúa trước khi ngủ.
    Với những dịp đặc biệt, Zélie thường dâng tuần cửu nhật kính Trái tim Rất Thánh Chúa Giêsu,
    thánh Giuse, hay các thánh khác, tùy vào hoàn cảnh. Biết rằng sức mạnh của lời cầu nguyện
    chung làm đẹp lòng Chúa, bà thường bảo các thành viên khác trong gia đình cầu nguyện với bà.
    Hai người tôn kính chuỗi mân côi, và có lần Zélie tâm sự với một người bạn, Philomene Tessier,
    rằng bà muốn làm một người phụ nữ nhỏ bé đơn sơ, lần hạt mân côi ở cuối nhà thờ và không
    muốn ai biết. Kẹt giữa công việc và con cái, Zélie thiếu thời gian để cầu nguyện, một điều khá
    buồn lòng con người khao khát Thiên Chúa hết lòng này. Về phần Louis, ông thích cầu nguyện
    trong các chuyến hành hương xin ơn cũng như tạ ơn Thiên Chúa. Cầu nguyện ngày càng lớn dần
    trong cuộc sống của ông, cũng như của vợ ông.
    Sự khổ hạnh thể hiện rõ ràng trong đời sống cầu nguyện đặt mình trước Chúa của hai người.
    Theo linh mục Marie-Eugene của dòng Carmen, thì khi một linh hồn đặt mình dưới ánh sáng
    Chúa, linh hồn đó khám phá ra những cần thiết của sự thánh thiện tinh tuyền. Tinh thần khổ hạnh
    của vợ chồng Martin đến với họ qua đời sống phụng vụ và các sự kiện trong ngày sống. Hơn
    nữa, họ tuyệt đối giữ mọi lần ăn chay theo luật Giáo hội, ngoài ra còn thêm một cách ăn chay của
    riêng mình: là không ăn gì cho đến tận buổi trưa, và buổi tối chỉ ăn nhẹ, tất nhiên là trừ lúc Zélie
    mang thai. Nếu có người mời hai vợ chồng ăn tối không báo trước, thì chắc hẳn phải tự mình ăn
    hết bữa ăn thịnh soạn đó thôi. So với người khác, với ông bà, ăn chay cũng không phải là việc dễ
    dàng gì. Zélie thẳng thắn thừa nhận: “Anh chị làm việc đền tội trọn ngày. May thay, đợt này sẽ
    sớm qua, bởi chị chịu khổ nhiều khi ăn chay và kiêm khem! Không phải là hành xác quá, nhưng
    chi lo cho dạ dày của chị, và trên hết chị quá yếu nên nếu nghe theo tự nhiên hẳn chị đã không ăn
    chay rồi.”
    Ngày nay, từ “khổ hạnh” dường như đã lỗi thời. Nhưng Giáo lý của Giáo hội Công giáo vẫn thể
    hiện những lợi ích của khổ hạnh. “Con đường hướng đến sự toàn hảo là qua con đường Thập giá.
    Không có sự thánh thiện nếu không có bỏ mình và chiến đấu trong linh hồn. Tiến bộ đường
    thiêng liêng đi kèm với sự khổ hạnh và hành xác dần dần hướng đến sự sống bình an và vui
    mừng của các Mối Phúc thật.” Với tinh thần này, ông Louis thực hành khổ hạnh khá thận trọng
    nhưng bền vững, ông tự cấm mình không hút thuốc, vắt chéo chân, uống rượu trong bữa ăn, và
    không lại gần lò sưởi nếu không cần thiết. Ông đi tàu bằng vé hạng ba, và ăn bánh mỳ chất lượng
    thấp mà người nghèo thường ăn. Đây là những hi sinh nhỏ, tự chúng không là gì, nhưng cho ông
    tách mình khỏi vật chất. Khi con gái Marie thắc mắc về những việc khắc khổ này, ông giải thích
    việc này là bởi ông rước lễ thường xuyên. Lập luận của ông Louis là: Thiên Chúa luôn luôn
    trước hết và trên hết. Hai vợ chồng mưu sinh với Thiên Chúa. Không những không có hại cho
    công việc, cho thời gian với con cái, và đời sống xã hội, cách sống của họ lại càng làm phong
    phú thêm các hoạt động này. Không cần phải nhìn đâu xa để giải thích nguồn cội tình yêu họ
    dành cho nhau, cho các con gái, cho người lân cận, và cho cả công việc thành công của họ. Có
    thể nói, phương châm sống của vợ chồng nhà Martin là, “Tâm hồn với Chúa trên cao, đôi chân
    đặt trên mặt đất.”
    Có thể xác định linh đạo của ông Louis bằng ba nguyên tắc này: quyền tối cao của Thiên Chúa,
    tin tưởng vào Đấng Quan Phòng, và bỏ ý riêng mình.
    Chắc chắn, Chúa là trước hết và trên hết, trong lòng và cuộc sống của họ. Ông và Louis và Zélie,
    ý thức sâu sắc về sự cao cả và tình yêu thương của Thiên Chúa, trong đầu luôn nghĩ rằng Chúa là
    nguồn cội, là hiện thực, và là mục đích của mình. Có một đoạn văn của Felicite Robert
    Lammenais mà bà Zélie thuộc lòng và thường đọc cho các con gái nghe: “Ôi! Nói với tôi những
    mầu nhiệm của thế giới mà tôi khao khát, khi linh hồn tôi chán chường những bóng mờ của địa
    cầu, khao khát được chìm đắm trong thế giới đó. Nói với tôi về Đấng tạo thành và đổ đầy thế
    giới đó bằng chính Ngài, và là Đấng độc nhất có thể đổ đầy hố thẳm cực cùng mà Ngài tạo nên
    trong tôi.” Hai vợ chồng, mỗi người có cách riêng để sống câu nói lừng danh của thánh
    Augustinô, “Chúng con được tạo thành cho Chúa, và lòng chúng con không nghỉ yên cho đến khi
    được nghỉ ngơi trong Chúa.” Ngay cả khi vui thú với những chuyện ở đời, Louis và Zélie vẫn đặt
    sự thành toàn hạnh phúc của mình nơi thiên đàng, nên ánh mắt của họ không ngừng ngước lên
    trời. Têrêsa về sau đã xác nhận rằng: “Thiên đàng là nơi mà mọi hành động và khát khao của cha
    mẹ tôi hướng đến.”
    Trong các lá thư của bà Zélie, chúng tôi thấy được tác động của niềm hi vọng, đức cậy này trong
    cuộc sống của hai vợ chồng. Lúc mới kết hôn, bà sống một cuộc sống đầy hạnh phúc và viết thư
    kể cho em trai rằng Mẹ Diễm phúc “sẽ giúp em thành công trong thế giới này, và cho em hạnh
    phúc bất diệt.” Zélie không phải là người theo tinh thần thiêng liêng bất nhập thế, kiểu chối bỏ
    mọi dạng niềm vui thế gian. Như mọi con người, bà mong muốn được hạnh phúc. Nhưng đến
    cuối đời, trĩu nặng bởi những buồn phiền, lo lắng và bệnh tật, bà viết, “Đức Trinh nữ Chí thánh
    đã nói với chúng ta, như khi Mẹ nói với Bernadette, “Ta sẽ làm cho con hạnh phúc, không phải
    trong đời này nhưng là đời sau.” Zélie trải nghiệm sức nặng của thập giá trong đời mình, và bà
    không tin rằng thực sự có thể có được hạnh phúc trong đời này. Bà triết lý rằng, “Hạnh phúc đích
    thực không phải ở đời này, và chúng ta đang lãng phí thời gian để tìm kiếm nó trong đời này.”
    Đây là chủ đề không ngớt trong các lá thư của bà.
    Như thế có phải là bi quan hay không? Hay đây là chủ nghĩa hiện thực của một người đánh giá
    rất cao ý niệm hạnh phúc đến nỗi nghĩ rằng mình không thể tìm được hạnh phúc nơi những sự sẽ
    phai mờ? Trong ba câu nói của bà vừa nêu ở trên, luôn có một yếu tố bất biến: đó là hi vọng hạnh
    phúc trên thiên đàng. Nếu không thể tìm được hạnh phúc nơi đời này, là bởi “Thiên Chúa, với sự
    khôn ngoan của Ngài, muốn như thế để chúng ta nhớ rằng đời này không phải là mái ấm đích
    thực.” Về sau, thánh Têrêsa cũng nói như thế. Như con gái mình, vợ chồng nhà Martin nhắc nhở
    cho thế giới duy vật của chúng ta rằng, định mệnh của chúng ta không phải ở đời này, và con
    người ta đừng lầm lẫn về những gì đáng phải tìm kiếm. Tìm kiếm hạnh phúc, đúng, nhưng là trên
    thiên đàng, nơi có hạnh phúc đích thực. Têrêsa cũng nói rõ rằng thiên đàng không phải là một
    thực thể xa vời hay xa lạ, nhưng là chính sự sống của Thiên Chúa, Đấng đã ở giữa chúng ta.
    Thiên Chúa của vợ chồng nhà Martin không phải là một Thiên Chúa xa cách. Như bà Zélie đã
    tuyên xưng rằng: “Khi chị nghĩ về những gì mà Chúa, Đấng mà chị đặt hết tin tưởng và phó thác
    mọi sự, đã làm cho chị và chồng chị, chị không thể hoài nghi về việc Chúa Quan Phòng dõi theo
    con cái của Ngài với một sự ân cần đặc biệt.” Một dịp khác, bà nói, “Chị biết Chúa đang chăm lo
    cho chị.” Với vợ chồng Martin, Thiên Chúa là một “Người Cha tốt” thực sự là một phần của gia
    đình. Hai người cậy vào Chúa và biết không chuyện gì xấu xảy đến cho họ khi có Chúa bảo vệ,
    ngay cả trong những cơn gian nan đau buồn nhất. “Người hi vọng nơi Chúa, sẽ không bao giờ hổ
    ngươi” là câu nói của cả nhà, và còn câu nữa là “Chúa chỉ cho chúng ta những gì chúng ta có thể
    chịu được.”
    Và vợ chồng Martin biết rằng Thiên Chúa, không phải là một Đấng khi bị xúc phạm thì giận dữ
    và báo oán, nhưng ngược lại, là một Thiên Chúa dõi theo họ với yêu thương. Họ nhận thức bàn
    tay Chúa trong những ơn trọng trong đời, là cuộc hôn nhân, con cái, thành công nghề nghiệp, và
    cả những quyết định của họ. Khi một chọn lựa hệ trọng được sáng suốt theo ý Chúa, thì họ tạ ơn
    Chúa, tin rằng Chúa đã hứng khởi và hướng dẫn cho hai người. Thiên Chúa quá gần gũi nên
    không làm ngơ họ.
    Ngài sẽ không để họ ngã . . . và theo Zélie, là ngay cả ngã theo nghĩa đen. Một ngày nọ, khi
    chuẩn bị đi lễ, bà Zélie đặt bé Têrêsa vào giường của mình, như thường vẫn vậy, nhưng lại quên
    chêm cạnh giường để bé không lăn ra ngoài. Thật ngạc nhiên, khi hôm đó trở về nhà, bà thấy bé
    Têrêsa đang ngồi yên trên chiếc ghế bên giường, một chuyện không thể xảy ra dù theo suy đoán
    kiểu nào chăng nữa. “Chị không thể hiểu được bé ngã kiểu nào mà lại ngồi trên ghế, bởi trước đó
    bé ở trên giường. Chị tạ ơn Chúa là đã không xảy ra chuyện gì cho bé. Thật sự là ơn quan phòng,
    bé đã có thể lăn ngã xuống sàn rồi. Thiên thần hộ thủ dõi theo bé, và các linh hồn trong luyện
    ngục mà chúng ta cầu nguyện mỗi ngày đã bảo vệ bé. Đây là cách giải thích duy nhất cho chuyện
    này. . . . Em có thể nghĩ tùy theo ý em!” Nơi các sự kiện nhỏ trong cuộc sống, Louis và Zélie
    nhận ra sự tốt lành của Thiên Chúa và tạ ơn Ngài. Họ cảm nghiệm được Đấng Quan Phòng, và
    cậy dựa vào Ngài.
     
    Hai người bỏ mình vâng theo ý Chúa, là bởi lòng tin tưởng này nơi sự tốt lành và ân cần của
    Thiên Chúa. Ông bà Louis và Zélie đặt trọn cuộc sống của mình trong tay Chúa, và để Chúa
    hướng dẫn mình. Thái độ này không phải từ bẩm sinh, không một ai sinh ra đã là thánh, nhưng là
    phải trở nên thánh. Zélie đã có nói về sự tiến triển này: “Chị không quên ngày mồng tám tháng
    mười hai năm 1860,” bà viết thư mười lăm năm sau biến cố này. “Hôm đó chị đã cầu nguyện xin
    Đức Mẹ cho chị bé Pauline. Nhưng chị không thể nghĩ đến chuyện này mà không bật cười bởi vì
    chị như đứa trẻ đòi mẹ cho mình con búp bê vậy, và chị vẫn cứ thế. Chị muốn có bé Pauline đúng
    như hiện nay vậy, và chị nhấn mạnh từng điểm, băn khoăn sợ không biết Đức Mẹ có hiểu đúng
    những gì chị muốn hay không.” Năm 1860, bà vẫn xin Chúa ban ơn theo ý mình, nói với Chúa
    như thể Ngài là người ban phát hồng ân, Đấng quá xa để thực sự hiểu được mình.
    Nhiều năm trôi qua cùng nhiều sự kiện trong đời, bà dần ý thức hơn rằng Thiên Chúa, Đấng biết
    rõ bà còn hơn bà biết mình, Ngài hiểu những cần thiết của bà mà không cần bà giải nghĩa chi tiết
    và “nhấn mạnh từng điểm.” Càng ngày bà Zélie càng cảm nghiệm được sự tốt lành của Chúa.
    Người phụ nữ đầy sinh lực này, vốn khá đủ khả năng điều phối cuộc sống của mình, bắt đầu bớt
    tìm kiếm ý riêng, bỏ mình mà theo ý muốn của Thiên Chúa “tốt lành” của bà. Từ một lời cầu
    nguyện khá ngây thơ và đòi hỏi ích kỷ, bà Zélie biến đổi thành một lòng Xin vâng như Đức Mẹ
    vậy. Bà không còn tỏ ra là một đứa con lo lắng và đòi hỏi trước Chúa - “Con muốn cái này, con
    muốn cái kia” - nhưng là một đứa con hạ mình, tin tưởng biết mình có thể cậy nhờ sự tốt lành
    của Cha mình. “Xin làm cho tôi như lời ngài.” (Lc 1, 38) Đây cũng là tinh thần của thánh Têrêsa,
    và thánh nữ học được qua mẫu gương của cha mẹ mình.
    Ông bà Louis và Zélie không ngừng gác bỏ ý mình mà theo ý Chúa, và muốn ý Chúa được biểu
    lộ trong mọi sự kiện và trong cả quyết định của những người thân thuộc. Từ bỏ ý riêng mình
    không phải là chuyện thịnh hành thời nay, và xã hội chúng ta nhầm lẫn điều này với việc mất tự
    do. Chuyện của vợ chồng nhà Martin sẽ soi sáng cho thấy. Hai người dạy cho chúng ta biết rằng
    tự do không phải là thực thi độc đoán những ý muốn và khao khát theo cái tôi tự đại của mình,
    nhưng tự do là trong sự quy phục ý của Cha chúng ta. Được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự tội,
    ông bà Louis và Zélie được tự do yêu thương và đã không để mình bị tước mất yêu thương. Từ
    bỏ ý riêng mình nghĩa là chúng ta nhận ra chúng ta không toàn năng và không kiểm soát mọi sự.
    Vợ chồng nhà Martin đã từ bỏ tuyệt vời, nên cả khi đối diện với những đau khổ lớn trong đời,
    như chúng ta sẽ thấy và thấy nhiều lần, họ vẫn tiếp tục nói “Xin vâng.” Chấp nhận sống trải
    nghiệm đau khổ không có nghĩa là chấp nhận đau khổ, mà là chấp nhận đi từ thực tế đau khổ đến
    sống thực tế đó trong yêu thương. Bà Zélie đã viết, “Khi có vấn đề thực sự bất hạnh, chị hoàn
    toàn chịu đựng và tin tưởng chờ đợi Chúa giúp sức.”
    Nghiên cứu của tiến sỹ Robert Cadeot về việc nhà Matin sử dụng thường xuyên từ “chịu đựng”
    sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn: Thời nay, từ này có thể bị hiểu lầm, bởi ý nghĩa của nó đã thay đổi
    qua nhiều thế kỷ rồi.
    Bà Zélie chấp nhận thực tế của đau khổ trong sự hiệp nhất với thập giá Chúa Kitô. Để diễn tả
    điều này, bà dùng từ “chịu đựng” vốn được dùng nhiều trong thế kỷ XIX.
    Nhưng ngữ nghĩa học có thể khiến bạn lầm. Trong tự điển, chúng ta có thể tìm thấy các từ đồng
    nghĩa như “từ bỏ, phục tùng, thờ ơ, buông bỏ, mặc cho số phận.” Với bà Zélie, từ này không gợi
    lên sự ù lì của người trốn tránh hay kiểu đau buồn của người tin vào nỗi buồn để buồn mà thôi,
    và từ “chịu đựng” của bà cũng không mấy cùng nghĩa với thờ ơ, buông bỏ, và mặc cho số phận.
    Với bà, cũng như với con gái Têrêsa của bà, người về sau cũng nhiều lần dùng từ này, thì “chịu
    đựng” là tự nguyện bỏ đi ý mình để nhường cho tình yêu Thiên Chúa, qua đó chấp nhận trải qua
    đau khổ trong hi vọng thiên đàng.
    Với vợ chồng nhà Martin, từ bỏ để theo ý Chúa và chịu đựng giữa gian nan, không đơn thuần là
    thái độ thụ động. Trung tâm linh đạo của hai người là một thái độ dâng hiến. Tất cả mọi đau khổ
    của họ được dâng lên Chúa, giống như những gì mà Đức Bênêđictô XVI đã diễn tả trong tông
    thư Spe Salvi (Được cứu rỗi trong Hi vọng).
    Từng có một dạng tận hiến, có lẽ ít được thực hành ngày nay nhưng cách đây không lâu
    khá phổ biến, trong đó có khái niệm “dâng hiến” những khó khăn nhỏ nhặt thường nhật
    cứ không ngừng thọc vào chúng ta buốt nhói, và bằng cách đó cho chúng một ý nghĩa . . .
    Dâng hiến nghĩa là gì? Những ai dâng hiến, tin tưởng rằng họ có thể lồng những phiền
    toái nhỏ nhặt của mình vào trong cuộc thương khó cao cả của Chúa Kitô, và như thế bằng
    cách nào đó họ trở nên một phần của kho báu cảm thương mà nhân loại đang rất cần kíp.
    Như thế, ngay cả những bất tiện nhỏ nhặt của cuộc sống thường nhật cũng có thể có được
    ý nghĩa và góp phần vào kho báu sự thiện và yêu thương của nhân loại. Có lẽ chúng ta
    nên cân nhắc liệu phục hồi việc thực hành này cho mình có phải là việc sáng suốt nên làm
    hay không.
    Khi phát triển thói quen dâng hiến những phiền toái nhỏ bé của ngày sống - cách riêng là vì ơn
    cứu độ các linh hồn - vợ chồng nhà Martin dần dần có thể dâng hiến các gian nan lớn hơn cũng
    như dâng cả chính bản thân mình. Đường thiêng liêng của ông bà Louis và Zélie bao gồm một
    linh đạo tự hiến đến mức trọn vẹn nhất, và hai người truyền lối sống này cho con cái mình.
    Thánh Têrêsa là ví dụ hoàn hảo cho điều này.
    Không thể khép lại một chương về linh đạo của vợ chồng nhà Martin mà không nhắc đến vị trí
    của Đức Mẹ trong lòng hai người. Họ có một tình con cái đầy sốt mến với Đức Mẹ, cầu nguyện
    với Mẹ mỗi ngày, và mừng kính Mẹ bằng mọi cách có thể. Cả hai người đều đeo dây áo Đức Bà,
    mảnh vải duy nhất còn nguyên vẹn khi dời mộ ông bà. Và ông bà Martin cũng cho con cái đeo
    dây áo Đức Bà, bởi họ muốn các con được che chở dưới tà áo Đức Trinh nữ Diễm phúc. Mọi
    buổi tối, hai người đều cùng nhau cầu nguyện bên tượng Đức Mẹ. Tượng này, được biết đến là
    tượng Đức Mẹ Mĩm cười, vẫn còn ở đền thánh Têrêsa ở Lisieux. Tượng cao gần một mét, hình
    Đức Mẹ không có mạng che mặt và đôi tay mở ra đón nhận con cái và ban ơn. Ông bà Louis và
    Zélie yêu mến Đức Mẹ Mĩm cười cách đặc biệt - ông bà đã phải thay các ngón tay của tượng, vì
    được hôn kính quá nhiều. Con gái Marie, nghĩ bức tượng quá lớn, đã có ý muốn thay tượng khác,
    nhưng Zélie kêu lên bao lâu bà còn sống, thì Đức Mẹ sẽ không rời nhà Martin. Đầu tháng năm,
    tháng Đức Mẹ, cả nhà trang trí tượng thật đặc biệt. Ông Louis muốn có các vòng kết bằng cánh
    hoa. Marie, chịu trách nhiệm chính cho việc trang trí, có lần nhăn nhó: “Mẹ mình quá khó, khó
    hơn cả Đức Mẹ! Chúng ta cần phải làm cho có cây táo gai vươn lên đến trần nhà, tường phải phủ
    đầy cây cỏ, vv ...” Với ông bà Louis và Zélie, không có gì là quá đẹp khi được dành để dâng kính
    Mẹ mà ông bà yêu mến rất nhiều.
    Ý định của tôi khi kể lại chuyện trên không phải là để so sánh đường thiêng liêng của ông bà
    Martin với các con gái, nhưng là để nhìn ra thừa kế thiêng liêng của thánh Têrêsa. Những định
    hướng chính cho “đường nhỏ bé” của thánh nữ không gì hơn là chính đường thiêng liêng của cha
    mẹ được Têrêsa áp dụng cho mình. Như chúng ta sẽ thấy, nền giáo dục của các cô con gái nhà
    Martin, hoàn toàn được định hình theo đường thiêng liêng của bậc cha mẹ thánh thiện.