User Menu

 CHƯƠNG VI

YÊU NGƯỜI LÂN CẬN

SỰ THỰC HÀNH ĐỨC ÁI

Lời giáo huấn về đức ái không phải chỉ có một mình Chúa là đối tượng duy nhất.  Nó còn trải rộng đến những anh chị em đồng loại của chúng ta.  Hơn thế nữa, khi chúng ta thật tâm yêu người bên cạnh thì chúng ta cũng yêu Thiên Chúa, bởi vì tất cả chúng ta được tạo nên giống hình ảnh Người, và trên hết Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta bằng chính ân sủng Người.

 

Nhưng có một lý do khác để yêu mến người đồng loại, đó là sự hiệp nhất của chúng ta trong Đức Kitô.  Bởi vì tất cả những ai là chi thể của Thân thể Huyền nhiệm Đức Kitô thì nên một trong Đức Kitô; Đức Kitô ở trong họ và họ ở trong Đức Kitô.  Khi họ ở trong tình trạng ân sủng, sự sống của Người lưu chuyển trong họ; Thần khí của Người làm cho họ sống động và Bí Tích Thánh Thể sẽ nối kết họ lại trong sự hiệp nhất ấy.  Vì thế, chính Đức Kitô là Đấng mà chúng ta phải nhìn thấy và yêu mến trong tất cả.  Bất cứ lỗi lầm nào của những chi thể, chúng không thể che lấp phần Đầu.

 

Chúa Thánh Thần làm cho Thánh Têrêxa hướng về việc thực hành đức ái ngay từ những giây phút đầu tiên của thời thơ ấu.  Ngay từ khi còn rất trẻ Chị đã cảm thông với những đau khổ của người nghèo và yêu thích an ủi họ.  Sau khi vào tu viện Carmel Chị thực hành nó hăng say hơn, Chị hiểu ngay từ đầu rằng: nếu chúng ta muốn sống một cuộc sống yêu mến Thiên Chúa chúng ta không thể bỏ qua tình yêu của chúng ta đối với người đồng loại.

 

Tuy nhiên, cho dù với thiện chí của chúng ta có như thế nào và dẫu cho chúng ta nghĩ rằng mình phải thực hiện đức ái, đôi khi chúng ta thấy rằng đây là một điều răn khó.  Chúng ta không thể nào nhận ra người đồng loại như chính người ấy là.  Tất cả mọi người đều bất toàn và chúng ta thường khó chịu vì những lỗi lầm và tư cách của người khác.

 

ĐỨC ÁI CỦA THÁNH TÊRÊXA TRONG DÒNG LISIEUX CARMEL

 

Thánh Têrêxa đã nhanh chóng nhận ra rằng sự thực hành đức ái yêu cầu một sự bỏ mình lớn lao và nó đòi hỏi chúng ta phải thực hành trong tinh thần đức tin.   Chị không thể tránh việc chú ý đến những khuyết điểm tự nhiên của những chị em trong Dòng.  Chị thấy những bất toàn của họ, những mỏng dòn và những lỗi lầm của họ.  Nhưng Chị cố gắng chỉ nhìn những đức tính tốt của họ. Chị nói: Đức ái hệ tại ở việc không để ý đến những lỗi lầm của người bên cạnh chúng ta, không ngạc nhiên vì thấy những sự yếu đuối của họ, nhưng ở sự khám phá ra những hành vi nhân đức nhỏ bé nhất mà ta thấy họ thi hành.

 

Chị ao ước chỉ có những tư tưởng đức ái và tìm cách bỏ qua cho những gì xuất hiện đáng khiển trách ở những người chị em.  Chị để cho Chúa Giêsu lãnh trách nhiệm phán đoán họ.  Bởi kinh nghiệm Chị biết rằng chúng ta thường có những đoán xét sai lầm, thậm chí cái có vẻ là một lỗi lầm có thể là một nhân đức bởi vì ý hướng riêng của người đó.  Mặt khác, Chị cho rằng không có gì dịu ngọt hơn việc nghĩ tốt cho người bên cạnh chúng ta.

 

Chị thích nhìn thấy sự hiệp nhất ngự trị mọi lúc trong cộng đoàn của Chị.  Đó là lý do tại sao Chị tránh hay ngăn chận bất cứ điều gì có thể làm mất đi sự an bình đó.

 

Chị Thánh ghê sợ những sự tranh cãi.  Có một chị luôn bày tỏ những quan điểm nghịch lại với quan điểm của Chị Thánh.  Chị Têrêxa để cho chị nầy nói những điều đó và hướng việc đối thoại đến một điểm khác.  Chị Thánh nói: Tốt hơn là để người khác giữ quan điểm của họ và bảo toàn sự bình an.

 

Chị không tán thành việc phê bình chỉ trích. Chị bảo: Bạn sai lầm khi phê bình điều nầy điều kia, mong muốn rằng mọi người chấp nhận những quan điểm của bạn.  Bởi vì chúng ta muốn trở thành đứa bé, đứa bé không biết điều gì là tốt nhất.  Mọi việc có vẻ tốt đối với chúng.

 

Khi có phiền hà rắc rối xảy ra trong cộng đoàn, Chị làm hết sức có thể để tái lập sự bình an.  Sự hiện diện của bốn năm người cùng một gia đình ở trong một tu viện thường là cớ gây ra một số khó khăn.  Chị Têrêxa đôi khi phải chịu đau khổ vì điều nầy.  Chị bảo những người chị của mình rằng chúng ta phải tìm kiếm sự khoan dung bởi cùng sống dưới một mái nhà.

 

Cho rằng chính đặc tính của đức ái là mở rộng con tim, Chị Têrêxa cố gắng làm phấn khởi mọi tâm hồn với niềm vui.  Chị tuyên bố: Chúa Giêsu yêu thích một con tim vui tươi phấn khởi. Người yêu những người luôn nở nụ cười.

 

 Đó là lý do tại sao Chị  thúc đẩy các tập sinh phấn đấu chống lại khuynh hướng thay đổi thất thường.  Chị muốn họ tỏ lộ một thái độ thanh thản và điềm tĩnh, theo ý Chị không gì làm cuộc sống cộng đoàn phiền muộn bằng những khuôn mặt buồn bã và những cặp lông mày cau có.  Chị giảng dạy điều nầy bằng chính gương mẫu của Chị.  Khuôn mặt của Chị luôn tươi thắm với nụ cười .  Chị là một tâm hồn vui vẻ trong những giờ giải trí.  Trung thành với lời khuyên của Mẹ thánh, Thánh Têrêxa cả, Chị muốn giờ ra chơi phục vụ cho sự giải trí cho chị em khác hơn cho sự thư giãn của chính Chị.  Chị có tính khôi hài và nhận xét dí dỏm và thậm chí có những dí dõm miễn là chúng không làm tổn thương bất cứ ai.  Hơn một lần, khi Chị vắng mặt, những chị em khác nhận xét:  Ồ thế thì hôm nay chúng ta sẽ không được cười nhiều nay.

 

Đức ái chân thật làm cho chúng ta quên mình và tìm kiếm phúc lợi cho người khác.  Chị Têrêxa mong ước trao ban sự phục vụ cho những người chung quanh Chị.  Chị đặt chính mình trong sự sử dụng của tất cả.  Chị luôn luôn sẵn sàng để giúp bất cứ ai nhờ Chị và Chị sẽ ngưng công việc của mình để làm điều đó.  Đôi khi sự phục vụ được hỏi đến bằng những cách khó ưa và không hợp lý.   Khi ấy một linh hồn không được đào tạo vững chắc trong việc thực hành đức ái sẽ tìm ra hàng ngàn lý do để chối từ, hay ít nhất Chị ấy không sẵn sàng để trao ban những gì người ta mong đợi ở Chị, và Chị làm cho người thỉnh cầu biết rằng họ thiếu sự nhã nhặn. Đó là một hành vi bất toàn và không giống đức ái của Đức Kitô.  Chị Têrêxa nói: Chúng ta đừng bao giờ từ chối bất cứ ai, ngay cả khi nó đòi phải trả giá bằng nhiều đau khổ.  Hãy nghĩ rằng chính Chúa Giêsu đang hỏi đến sự phục vụ nầy của chị; thật là háo hức và thân thiện chị sẽ cống hiến cho đặc ân được thỉnh cầu nầy.

 

Tuy nhiên, có một điều còn tốt hơn việc cho cái người xin; chúng ta có thể ban tặng chính chúng ta.  Chị viết: Con phải đoán trước những mong ước của người khác, tỏ cho họ rằng chúng ta biết ơn, rất vinh dự để trao ban sự phục vụ.  Thiên Chúa nhân từ muốn con quên chính mình để đem sự hài lòng cho người khác.

 

Chị Genevieve (Celine) của Chị Thánh chứng thực rằng Chị Thánh không bao giờ bỏ qua một dịp nào để phục vụ: chị (Celine) nói:  Đứa em bé nhỏ của tôi không bao giờ làm bất cứ điều gì để thỏa mãn chính mình.  Bất cứ một chút giờ tự do nào chị có trong giờ giải trí đều được dùng để phục vụ người người khác.  Trong khi Chị giữ nhiệm vụ trong phòng thánh, tôi để ý thấy trong những ngày tự do khi việc của Chị xong xuôi, Chị luôn ở lại gần phòng thánh để Chị có thể  được gọi giúp những người khác hoàn tất công việc của họ.  Chị đặt mình trong cách thế được chị em phân bổ công việc do đó chị em nầy có thể nhờ Chị Thánh đảm trách một số công việc - như Chị vẫn luôn làm như vậy.  Biết rằng việc nầy Chị Thánh phải trả một giá đắt, tôi thường chỉ cho Chị cách có thể tránh né được điều đó.  Nhưng tất cả đều vô ích.  Chị Thánh muốn hoàn toàn chịu sự sai khiến và đòi hỏi của tất cả mọi người.

 

Khi làm việc với những người khác, Chị Thánh cố gắng làm vừa lòng họ trong từng cách thế.   Bất kể những sở thích kỳ cục hoặc những ý kiến của những người  đồng sự có thể có, Chị Thánh làm cho mình thích hợp với họ đến mức độ như Chị chia sẻ những quan điểm của họ.

 

Khi Chị Thánh phụ trách giám tập, như được mong đợi, Chị trao ban chính mình nhiều hơn cho những tập sinh trẻ, những người mà Chị có trách nhiệm.  Chị cho phép họ hầu như nuốt chửng lấy Chị.

 

Theo như một câu phát biểu, họ khuấy rầy Chị đúng lúc cũng như trái lúc, đến mức quấy rầy Chị với những câu hỏi không ngừng không cần thiết và thường khi không kín đáo.  Nhưng Chị Têrêxa luôn giữ vẻ điềm tĩnh và dịu dàng để đối xử với tất cả mọi người.

 

Tuy nhiên, trong việc huấn luyện các tập sinh, Chị Têrêxa lưu ý chị em rằng không ai nên áp đặt đức ái trên người bên cạnh họ, cũng đừng đòi hỏi sự giúp đỡ của những người khác trừ khi điều đó cần thiết.  Chị cũng khuyên họ chống lại việc phục vụ người khác cho những động lực ích kỷ hoặc không chính đáng.  Tôi không nên giúp đỡ người khác để được thấy như thế, hay với hy vọng làm cho chị khác sẽ trả lại sự giúp đỡ cho tôi.   Trong khía cạnh nầy Chị dẫn chứng lời của Chúa chúng ta khi Người dạy chúng ta cho người khác mượn mà không mong được họ trả lại.

 

Dĩ nhiên, đôi khi người bên cạnh của chúng ta hỏi sự giúp đỡ, tự ý hứa sẽ trả lại chúng ta khi có cơ hội.  Chị viết một cách dí dỏm,  Họ đến và bảo Chị với một giọng thuyết phục, Chị ơi, em cần Chị giúp một vài giờ, nhưng đừng lo, em có phép của Mẹ rồi và em sẽ đền bù thời gian Chị giúp em. 'Nhưng chúng ta biết rất rõ rằng thời gian cho người khác sẽ không bao giờ được trả lại, chúng ta có khuynh hướng muốn nói 'em cho chị đó'.  Khi ấy, đức ái của chúng ta ở đâu?   Tuy nhiên, họ có trả lại việc phục vụ của Chị Thánh hay không, Chị không bao giờ bị đánh lừa:  Em không mất gì cả, những gì em làm là cho Thiên Chúa làm cho Thiên Chúa tốt lành của chúng ta hài lòng vì thế em luôn luôn được trả cho những khó nhọc em chịu khi phục vụ người khác.

 

Thói quen luôn luôn đặt mình vào sự tuỳ ý sử dụng của người bên cạnh có thể trở thành một sự rất nặng nề phiền toái.  Người ta thường chạy tìm kiếm những ân huệ nơi những người mà họ biết là sẽ ban cho họ.  Chị Têrêxa nói, Không thành vấn đề, tôi không nên tránh né những chị em tìm kiếm sự giúp đỡ của tôi.  Không phải là thầy Chí Thánh bảo chúng ta, 'Ai xin, hãy cứ cho, ai mượn, đừng chối từ' đó sao? (Mt. 5, 42).

 

Dĩ nhiên, có những lúc, khi một người không thể cho những ân huệ được đòi hỏi.  Trong trường hợp nầy, chúng ta phải nhớ rằng có những cách từ chối rất lịch sự đến nỗi sự từ chối cũng cho sự hài lòng như là một quà tặng.

 

Trong tính chất của lời khấn khó nghèo, mọi sự được dùng chung trong cuộc sống tu sĩ.  Không ai có quyền sở hữu bất cứ cái gì như của riêng họ.  Tuy nhiên, bởi vì công việc của một người hay vì những lý do khác, một vài đồ vật được đặt dưới quyền sử dụng của một cá nhân tu sĩ nào đó.  Việc nầy đôi khi xảy ra khi một chị em lấy một vật gì đã được đặt dưới quyền sử dụng của một người khác và quên không thông báo cho người có liên quan.  Hay, hơn nữa chị ta vào phòng của một người khác và làm mất thứ tự ở đó.  Sự kiên nhẫn bị thử thách gắt gao trong những trường hợp như thế và thật là khó để giữ tinh thần không dính bén.  Sự thực hành đức ái không phải là luôn luôn dễ dàng đối với chị thánh:  Đôi khi Chị phải nắm chặt lấy sự kiên nhẫn của Chị với hai bàn tay, vì sợ rằng nó sẽ trốn mất khỏi Chị, hay Chị phải chạy trốn như một kẻ đào ngũ để khỏi bị đánh bại    Nhưng ân sủng làm cho hoàn hảo những cố gắng của Chị và cuối cùng Chị luôn chiến thắng.

 

Những hành động đức ái chúng tôi ghi lại chắc chắn đáng chú ý, nhưng sự thực hành nhân đức nầy của Chị Thánh trong lần bệnh cuối cùng còn đáng thán phục nhiều hơn nữa.  Bởi vì đức ái càng hoàn hảo khi nó càng tinh tế và sự thực hành càng đòi nhiều nổ lực.

 

Chị Thánh Têrêxa đau đớn khôn tả trong lần bệnh cuối cùng.   Nhưng mặc dù tình trạng kiệt sức của thể xác hay sự đau khổ tinh thần thế nào đi nữa, Chị làm hết sức để tươi cười và dễ thương trong thái độ của Chị khi được thăm viếng.

 

Những sự thăm viếng Chị nhận được lúc đó không phải là luôn luôn dễ chịu.  Một chị thật thà mỗi chiều đến để nhìn và cười với Chị Thánh Têrêxa, và ở lại chân giường của Chị một thời gian đáng kể.  Mặc dầu ý định tốt của chị nầy có thể có, sự thăm viếng thường xuyên và kéo dài của chị nầy thật là làm mệt nhọc cho người bệnh, mặc dù thế Chị Thánh không phàn nàn, và thậm chí còn cố gắng cười với vị khách của mình.  Tuy nhiên, một ngày nọ Chị được hỏi nếu những cuộc thăm viếng vô ý nầy có làm Chị mệt không.  Chị trả lời,  Vâng, thật là đau khổ khi một người bị ai cười và nhìn mình trong khi họ đang đau đớn, nhưng em nói với mình rằng Chúa chúng ta trên Thánh giá còn bị nhìn nhiều hơn thế nữa với cách thế đó trong những sự đau khổ của Người.

 

Sau khi Chị nhận Bí Tích Xức Dầu và Của Ăn Đi Đàng, các chị em quay chặt lấy Chị không để cho Chị thời giờ để cám ơn Chúa.  Chị lập tức chào họ mà không lộ một dấu hiệu bất mãn nhỏ nào.  Sau nầy Chị Thánh thú nhận với mẹ Agnes:  Con rất khó chịu khi bị khuấy rầy trong lúc con tạ ơn Chúa.  Nhưng con nhớ rằng khi Chúa chúng ta rút lui vào nơi thanh vắng, dân chúng theo Người và Người đã không giải tán họ.  Con muốn bắt chước Người qua việc chấp nhận những chị em cách ân cần.

 

Cuối cùng, đây là truờng hợp gần giống như việc anh hùng.  Trong buổi tối cuối cùng Chị Thánh Têrêxa trải qua trên trần thế.  Chị sút giảm đến tình trạng kiệt sức.  Các chị em của Chị thánh đang canh chừng chị.  Một trong những chị em nầy đã ngủ, chị kia cũng thiếp đi trong khi Chị Têrêxa chậm rãi hớp từng ngụm nước chị được trao cho.  Chị Thánh, cảm thương chị em, đã giữ ly nước trong hai tay của mình cho đến khi một trong hai người thức giấc.

 

   ĐỨC ÁI HOÀN HẢO CỦA THÁNH TÊRÊXA

 

Mặc dầu Chị Têrêxa đã thi hành hoàn hảo đức ái trong suốt cuộc đời Chị, vào tháng 7/1897 Chị viết rằng cho đến lúc cơn bệnh cuối đời của Chị, Chị đã không hiểu đến mức đầy đủ lời giáo huấn đó.  Không nghi ngờ gì Chị đã đọc đoạn Tin mừng trích của Thánh Gioan (13,34) khi mà Chúa ra lệnh cho các môn đệ của Người hãy yêu nhau như Người đã yêu thương họ.  Nhưng Chị viết Chị đã không hiểu thấu chiều sâu ý nghĩa của nó.  Vì lẽ Chị mong muốn một tình yêu hoàn hảo thật, Chúa Giêsu đã tỏ cho Chị biết rằng ý muốn của Người là Chị nên thực thi điều răn mới nầy.

 

Thiên Chúa trong Cựu Ước, đã ra lệnh cho dân Chúa yêu thương người thân cận như chính mình.   Xét về cái ích kỷ lớn lao cố hữu của bản tính nhân loại, Chúa đã đòi hỏi lớn lao ở họ khi Người quy định điều lệ của lời dạy bảo đó, trước khi Người cho họ gương mẫu của cuộc sống Người trên trần thế.

 

Nhưng khi Chúa Giêsu đến giữa chúng ta, Người đã không còn thỏa mãn ngay cả mức độ đó của tình yêu.  Người đòi hỏi chúng ta yêu những người đồng loại như chính Người đã yêu họ, như Người sẽ yêu họ đến tận thế.  Chị Thánh Têrêxa nói:  Giờ đây, con đặt mình vào nhiệm vụ khám phá ra cách Chúa Giêsu đã yêu những môn đệ của Người như thế nào, con nhận ra rằng đó không phải là phẩm tính tự nhiên của họ, bởi vì họ dốt nát và đầy những tư tưởng phàm tục.  Nhưng Chúa gọi họ là bạn hữu, Chúa mong muốn họ được gần Người trong nước của Cha Người và, để khai mở nước đó, Người đã chọn chịu chết trên cây thánh giá, Người nói rằng không có tình yêu nào lớn hơn tình người hy sinh tính mạng vì những người mình  yêu.

 

Được soi sáng bởi những tư tưởng nầy, Chị Têrêxa hiểu rằng, nếu cho tới khi Chị yêu Chúa Giêsu trong những người chị em của mình, thậm chí còn cố gắng gieo rắc niềm vui và bình an trong tâm hồn họ, thì từ nay về sau, để chu toàn luật mới, chị phải nuôi dưỡng tình yêu riêng cho mỗi người, tạo thành trong tim chị cùng một tình cảm mà Chúa Giêsu đã dành cho họ.

 

Luôn luôn ý thức về sự nhỏ bé của mình, Chị tự hỏi làm sao điều nầy có thể đạt được. Chị cảm tưởng là Chị không thể thực hiện một tình yêu lý tưởng như thế, vì thế Chị cầu xin chính Chúa Giêsu in sâu tình yêu của Ngài trong tâm hồn Chị.  Bởi vì Chúa ban cho chúng ta điều răn yêu thuơng như Người yêu, có nghĩa là Người cũng chuẩn bị ban cho chúng ta ân sủng để làm việc ấy.

 

 Vì thế, từ lúc đó Chị Thánh cố gắng ở trong sự kết hợp mật thiết hơn với Chúa, bởi vì Chị xác tín rằng, sự kết hợp càng mật thiết, thì Chị càng có thể thực hiện mệnh lệnh đức ái.  Chúa Giêsu khi ấy sẽ yêu trong Chị và Chị sẽ yêu qua Người và yêu giống như Người.

 

Mặt khác xét về việc Chúa Giêsu hiện diện trong linh hồn những chị em khác, Chị Thánh nỗ lực để cũng yêu Người trong họ.

 

Để thực hành đức ái với cách thức mà Chị Têrêxa thực hiện, đó không phải là công việc đơn độc của một người.  Ân sủng thần thiêng thật là cần thiết.  Chính Chị viết rằng không có ân sủng thì không thể thực hiện được đức ái siêu nhiên hay ngay cả việc hiểu tất cả những gì nó đòi hỏi.   Với những người thấy rằng việc thi hành khó khăn như thế Chị trả lời:  Chỉ có bước đầu là khó khăn.  Chúa sẽ giúp ta khi chúng ta có ý hướng tốt.  Chỉ cần sự ao ước thực hành đức ái thôi sẽ cho tâm hồn bình an.

 

Chúng ta hãy chấm dứt ở đây bằng trường hợp như là một kết luận thích hợp cho việc học hỏi nầy.  Lúc gần cuối đời chị Têrêxa bị bệnh rất nhiều.  Khi thời tiết cho phép, Chị được mang đến trong vườn và ở đó Chị viết những trang cuối cùng của quyển tự thuật của Chị.  Những chị em đi ngang qua Chị, trong khi biểu lộ sự thân mật, liên tục khuấy rầy Chị.  Mỗi khi bị gián đoạn Chị Têrêxa đặt viết xuống, gấp quyển vở lại và đáp trả những chị em đó với một nụ cười.  Mẹ Agnes hỏi Chị làm sao Chị có thể nối kết thậm chí hai ý tưởng liên tiếp nhau được dưới những hoàn cảnh như thế,.  Chị Têrêxa trả lời:   Con đang viết về lòng đức ái huynh đệ.  Đây là một dịp để thực hành nó. Và chị thêm vào những lời có lẽ là đẹp nhất được viết cho đề tài nầy:  Mẹ quý mến của con, đức ái huynh đệ là tất cả trên mặt đất nầy.  Chúng ta yêu Thiên Chúa trong mức độ chúng ta thực hành đức ái.

 

Câu nầy là tiếng dội lại của giáo huấn Phúc âm và của sự tiết lộ quan điểm cơ bản của Chị Têrêxa.  Chúng ta có thể luôn giữ nó trong tâm trí và chuyển dịch nó vào tư cách đạo đức của chúng ta.

 

SỰ NHIỆT THÀNH CỦA CHỊ TÊRÊXA CHO CÁC LINH HỒN.

 

Đức ái không chỉ giới hạn với những người chúng ta sống với hay với những người chúng ta liên hệ với.  Cũng như tình yêu của Thiên Chúa mở rộng ra đến tất cả mọi người và Đức Kitô đã hiến mạng sống mình cho tất cả, tình yêu của chúng ta cũng phải đạt đến mức phổ quát như thế.  Khi tình yêu mạnh mẽ nó đem đến lòng nhiệt thành, nhiệt thành cho vinh quang của Thiên Chúa, nhiệt thành cho sự cứu rỗi của các linh hồn.

 

Xứng đáng là con gái của ngôn sứ Elia, Chị Têrêxa luôn bị đốt cháy với sự hăng hái nồng nhiệt nhất.  Không phải là không có lý do khi Đức Giáo Hoàng làm cho Chị thành vị thánh bổn mạng của các xứ truyền giáo.  Tình yêu Thiên Chúa đã lôi cuốn Chị từ khi còn thơ bé; lòng nhiệt thành cho các linh hồn đã được đốt lên ngay từ những tháng năm còn non trẻ trong tâm hồn Chị.

 

Vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1886 Chị nhận được một ân sủng đã thay đổi tâm hồn Chị … đức ái đã đi vào tim Chị với ước muốn luôn luôn quên đi chính mình.  Chị cảm nghiệm một sự nhiệt tình không được biết cho đến khi đó, một ước muốn lớn lao làm việc cho sự trở lại của những tội nhân.  Chúa Giêsu làm cho Chị trở thành người lưới các linh hồn.

 

Một ít lâu sau đó -một ngày Chúa nhật trong tháng 7 năm 1887 - trong khi gấp quyển Sách Lễ lúc gần cuối thánh lễ,một tấm ảnh của Đấng chịu đóng đinh ló ra khỏi những trang sách, cho Chị thấy một bàn tay bị đâm thủng và chảy máu.  Hình ảnh ấy cho Chị một làn sóng xúc cảm không thể tả được, nó khá mới đối với Chị.  Tâm hồn Chị đầy tràn sự đau khổ với hình ảnh dòng máu quý giá đổ xuống mà không có ai vội vã hứng lấy.    Đó không chỉ đơn giản là cảm xúc thương mến đối với Đấng chịu đau khổ trên đồi Calvê, cũng không phải là những tư tưởng về sự vô ân bội bạc của nhân loại, những người đã phớt lờ một tình yêu lớn lao như thế, điều đó nổi bật trong tâm trí chị.  Đúng hơn là chị đã bị đánh động với sự đau khổ nhìn thấy giá máu châu báu bị lãng phí bởi vì không có một ai hứng lấy và đổ giá máu ấy trên linh hồn nhân loại.

 

Từ đó trở đi, Chị hiểu nhiệm vụ mà Thiên Chúa chỉ định cho Chị trong công cuộc cứu độ, một sự an ủi mà Người trông mong nơi Chị.

 

     Vai trò của Chị chính là liên tục trong tinh thần đứng mãi nơi chân Thánh giá và hợp tác trong công cuộc cứu chuộc bởi việc hứng lấy giá máu châu báu và đổ xuống cho phần rỗi các linh hồn.  Từ đó về sau Chị có cảm tưởng là luôn nghe tiếng kêu của Chúa Giêsu hấp hối diễn tả sự khao khát của Ngài.  Sự khẩn khoản kêu xin kích động trong tâm hồn Chị sự nhiệt tâm Chị không biết cho đến lúc đó.   Chị bị đốt cháy với khát vọng cứu chữa những tội nhân.

 

Sự trở lại của Pranzini, là hoa trái của những lời cầu nguyện của Chị, giúp cho ước muốn đó mãnh liệt hơn.   Chị cho mình là người trung gian trong một sự trao đổi thực sự của tình yêu. Chị đổ trên những linh hồn giá máu của Chúa Giêsu và dâng lên Người những linh hồn được tẩy sạch bởi giá máu mà Người đã đổ ra.

 

Nhìn thấy Chị Têrêxa được đầy sinh khí với cảm nghĩ như thế, chúng ta có thể tưởng rằng Chị sẽ ao ước được vào một Hội dòng truyền giáo. Tuy nhiên Chị thích cuộc sống tu kín để Chị có thể trao hiến chính mình hoàn toàn hơn cho Thiên Chúa tốt lành. Chị nghĩ rằng trong dòng kín Chị có thể thánh hiến chính mình hoàn toàn hơn cho một cuộc sống từ bỏ và khổ hạnh và sự hy sinh của Chị sẽ sinh nhiều hoa trái hơn cho các linh hồn, khi mà Chị bị lấy đi sự an ủi của sự làm việc hăng hái ở giữa họ.  Vì thế, Chị vào tu viện Carmel để hiến dâng hoàn toàn cho Thiên Chúa, để yêu mến Chúa Giêsu hoàn hảo hơn và để thuộc về Ngài trọn vẹn hơn.

 

Chúng ta phải nhớ rằng Dòng Carmel của Thánh Têrêxa Avila đã có vạch rõ mục đích tông đồ, theo ý hướng của vị cải tổ thánh thiện.  Mục đích mà Chị Têrêxa tuyên bố trong kỳ thẩm vấn trước khi khấn hứa, khi Chị được hỏi tại sao lại vào dòng Carmel.  Chị trả lời: Con vào Dòng để cứu giúp những linh hồn và đặc biệt là cầu cho các linh mục.

 

Sau khi vào dòng Chị ứng dụng cho mình sự theo đuổi tới mục đích đó với tất cả nhiệt tâm của linh hồn quảng đại của Chị.  Chị viết: Khi chúng ta muốn đạt tới một đích điểm nào đó, chúng ta phải dùng những phương tiện thích đáng.  Chúa Giêsu đã làm cho con hiểu rằng chính qua thánh giá mà Ngài đã ban tặng cho con nhiều linh hồn; như thế sự đau khổ của con càng nhiều thì con càng yêu mến nó nhiều, và đó là mục tiêu chính của con trong 5 năm nay.  Tuy nhiên, không có gì tỏ cho người khác thấy những khổ đau con chịu đựng và những đau khổ này càng đau hơn bởi vì chỉ có mình con biết chúng.

 

Chị Thánh Têrêxa biết rằng Thiên Chúa làm cho chúng ta nên những người giúp đỡ Chúa trong công cuộc cứu chuộc, và trong hiệu lực của việc các thánh thông công, sự cầu nguyện của một linh hồn tầm thường, một khao khát của con tim, có thể cứu giúp linh hồn của anh chị em chúng ta.

 

Đó là lý do tại sao Chị Thánh hạ quyết tâm dâng tất cả mọi sự cho mục tiêu đó và không giữ lại gì cho chính mình.  Chị phát biểu: Con không biết làm sao để giữ chúng lại nên con phải chi tiêu lập tức vào việc mua lấy các linh hồn. Tất cả những gì thuộc về con thì thuộc về tất cả mọi người (của những người anh truyền giáo).  Con có cảm tưởng rằng Thiên Chúa rất tốt lành để cho chúng ta những phần đã được đo lường.  Người rất giàu có nên Người ban cho con những gì con xin mà không cần đo lường.

 

Và trong những phút cuối cùng trong đời của người khác, Chị nói: Con không biết con có vào luyện ngục hay không, và con không bao giờ lo lắng về nó, nhưng nếu con vào đó, con sẽ không hối tiếc rằng con đã không làm gì để tránh nó.  Con sẽ không hối tiếc rằng con đã làm việc đặc biệt cho sự cứu giúp những người khác.  Thật là hạnh phúc khi con biết rằng Mẹ Thánh Têrêxa của chúng ta cũng nghĩ như thế.  Thậm chí Chị Têrêxa ước muốn rằng những kinh nguyện chị nhận được để giảm nhẹ những đau khổ quá sức của Chị, nên được dâng lên cho việc cứu rỗi các linh hồn.

 

Biết rằng có những linh hồn không có đức tin, Chị muốn được ngồi cùng bàn với những người tội lỗi. Để đem họ trở về cùng Thiên Chúa, để ngăn ngừa hay để đền bồi cho một lỗi lầm chống lại đức tin, Chị bộc lộ sự sẵn sàng ăn bánh đau khổ cho tới khi Thiên Chúa hài lòng đem Chị vào vương quốc vinh quang của Ngài.  Chị sẵn sàng từ chối tất cả những vui vẻ trần gian để Thiên Chúa có thể đem lên Thiên đàng những người không tin.

 

Chị Thánh Têrêxa tìm cách khơi dậy lòng nhiệt thành như thế nơi những người khác, đặc biệt trong tâm hồn của Celine: Gần đây một tư tưởng đến với trí khôn con mà con phải tỏ cho chị Celine yêu dấu của con biết. Và Chị Thánh đã đến nhắc nhở chị Celine những lời của Chúa Giêsu thúc giục các Tông đồ xin Chủ mùa sai thợ đến gặt lúc trong cánh đồng của mình.  Chị kêu lên: Thật là một huyền nhiệm, tại sao Chúa Giêsu lại nói như thế?  Không phải là Người có toàn quyền sao?  Là bởi vì Người có một tình yêu vô biên đối với chúng ta nên Người muốn chúng ta cùng có phần với Người trong việc cứu giúp các linh hồn.  Người không muốn làm bất cứ việc gì mà không có chúng ta.  Đấng Tạo Thành vũ trụ chờ đợi lời cầu nguyện của một thụ tạo tầm thường để cứu những người khác, giống như Chị Thánh, được cứu chuộc bởi giá máu châu báu của Người…và Chị Thánh hãnh diện nhắc lại những sự chia sẻ của các nữ tu Carmel trong công việc đó: Ơn gọi đặc biệt của chúng ta không phải là làm việc mình chúng ta trong những cánh đồng.  Nó còn cao trọng hơn thế nữa.  Hãy nghe những lời của Chúa Giêsu: 'Hãy ngước mắt lên và hãy nhìn xem có những chỗ trống trên Thiên đàng như thế nào.  Đó chính là bổn phận của con để làm đầy những chỗ trống đó.  Trở nên Môsê khác cầu nguyện trên núi; hãy xin những thợ gặt và ta sẽ gởi họ đến.  Ta chờ đợi một lời cầu nguyện, một ao ước của một tâm hồn.'  Đó không phải là lời cầu nguyện tông đồ, như nó là, tuyệt diệu hơn công việc rao giảng thực sự sao?

 

Với một trong những người anh truyền giáo Chị Thánh nói:  Một tu sĩ Carmel, không phải là một tông đồ từ bỏ mục đích của ơn gọi khác và ngưng trở thành con gái của vị thánh thiên thần Têrêxa, mà là người mong ước cho đi hàng ngàn cuộc sống để chỉ cứu một linh hồn. Chúng ta hãy cùng nhau làm việc cho sự cứu rỗi các linh hồn.  Chúng ta chỉ có một cuộc sống vắn vỏi nầy để cứu giúp họ và như thế để tỏ cho Chúa bằng chứng của tình yêu chúng ta.

 

Lòng nhiệt thành cho các linh hồn nầy được đánh dấu bởi một dấu hiệu đặc biệt đã không được xác định rõ ràng nơi những vị thánh khác.  Tất cả các vị thánh đều bị soi mòn bởi  lòng nhiệt thành cho các linh hồn, nhưng phút cuối của cuộc đời họ nguyện vọng lớn lao nhất có vẻ như là để dự phần với phúc lộc của Thiên Chúa và an nghỉ trong Người.

 

Dĩ nhiên, Chị Thánh Têrêxa cũng cảm nghiệm ước muốn nầy, nó đến từ chính Thiên Chúa.  nhưng nhiệt tâm tông đồ của Chị quá lớn đến nỗi dường như đối với Chị hạnh phúc sẽ không hoàn toàn, tuy dù được an nghỉ trong Chúa, nếu Chị không được phép trở lại trái đất để tiếp tục việc tông đồ: Con không thể suy niệm nhiều về hạnh phúc trên thiên đàng đang chờ đợi con. Chỉ có một điều làm cho tim con rung động: chính là tư tưởng của tình yêu con sẽ nhận được và tình yêu con có thể trao ban. Con nghĩ đến những việc tốt mà con thích làm sau cái chết của con.  Nếu những ước muốn của con được chấp nhận, thiên đàng của con sẽ được chi dùng trên trái đất cho tới khi tận cùng của thế giới.  Vâng, con mong ước được dùng thiên đàng của con để làm chuyện tốt trên trái đất.  Con sẽ không thể ngơi nghỉ được bao lâu vẫn còn những linh hồn cần được cứu giúp.  Nhưng khi Thiên thần nói, 'Thời gian không còn nữa' khi ấy con sẽ yên nghỉ.  Khi ấy con sẽ hạnh phúc, bởi vì số được chọn sẽ được trọn vẹn và sẽ được vào sự vui vẻ và an nghỉ đời đời.

 

Đó là lý do tại sao Chị xin rằng, sau khi Chị về thiên đàng, những người khác sẽ thường xuyên làm tay Chị đầy những hy sinh và lời cầu nguyện, do đó Chị có thể có được sự thích thú tuôn chúng xuống những linh hồn giống như mưa ân sủng.   Lòng nhiệt thành của Chị quá lớn lao đến nỗi chị quả quyết rằng một ngày nào, nếu trên thiên đàng Chị không còn có thể hoạt động cho vinh quang nước Chúa nữa, chị sẽ thích được lưu đày khỏi nước thiên đàng đó.   Dĩ nhiên đây là một cách nói mạnh mẽ của ngôn ngữ bởi vì Chị Thánh biết rằng trên thiên đàng Chị sẽ hữu dụng hơn cho các linh hồn hơn khi Chị ở trên trần thế.

 

Chị Têrêxa quan tâm đến linh hồn những tội nhân.  Chị ao ước được chịu đau khổ cho họ.  Nhưng trên hết, Chị quan tâm đến các linh mục và những nhà truyền giáo.  Chính bởi vì họ mà Chị đã vào dòng Carmel, như khi Chị tuyên bố trong lần thẩm vấn trước khi Chị khấn hứa.  Sau nầy khi viết cho Mẹ Agnes Chị lập lại điều quả quyết đó:  Ôi, thưa mẹ của con, thật đẹp đẽ thay ơn gọi của chúng ta.  Chính phận sự của Carmel là duy trì muối đất.  Chúng ta dâng những kinh nguyện và hy sinh của chúng ta cho những tông đồ của Chúa.  Chính chúng ta phải là tông đồ của họ, trong khi họ, bởi những lời nói và gương sáng, rao giảng phúc âm cho linh hồn anh chị em chúng ta.  Thật là một sứ mạng cao quý của chúng ta!

 

Chị bảo với chị Celine: Sứ mạng của chúng ta, một nữ tu Carmel, là đào tạo những người thợ rao giảng phúc âm những người sẽ cứu hàng triệu linh hồn mà chúng ta sẽ là những người mẹ của họ.  Như vậy tại sao chúng ta lại ganh tị với những linh mục? Chị cảm thấy sự cần thiết cầu nguyện cho họ ngày càng thêm, bởi vì Chị biết rằng tình yêu và đức hạnh không phải là luôn luôn đi đôi với đặc điểm thánh thiện của họ.  Chị nói tiếp:  Chị Celine, trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi còn ở trên thế gian nầy, chúng ta đừng để phí hoài thời giờ của chúng ta chúng ta hãy cứu giúp các linh hồn, chúng ta hãy là những người tông đồ, và đặc biệt chúng ta hãy làm cứu giúp linh hồn  các linh mục.  Linh hồn các vị phải trong sáng hơn thủy tinh. Than ôi! Có rất nhiều linh mục xấu, những linh mục không là những vị thánh các ngài đã cho người khác con tim của mình mà đáng lẽ nó phải hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu. Chúng ta hãy cầu nguyện và chịu đau khổ cho họ … Xin cho đời sống chúng ta được thánh hiến cho họ!

 

Chị cũng bảo chị Celine:  Ôi, chị Celine, em cảm nghiệm rằng Chúa Giêsu đòi hỏi cả hai chúng ta làm giảm cơn khát của Người bởi việc cho Người các linh hồn, đặc biệt là linh hồn các linh mục.  Người làm cho em cảm nhận điều nầy mỗi ngày và muốn em nói với chị.  Sứ mạng của chúng ta là hãy quên đi chính mình, hãy thiêu hủy chính mình.

 

Chúng ta rất tầm thường, nhưng Chúa Giêsu muốn sự cứu rỗi các linh hồn tuỳ thuộc vào những hy sinh của chúng ta và trên tình yêu của chúng ta.  Người xin chúng ta những linh hồn.  Người muốn chúng ta đem lại nhiều linh mục, những linh mục biết cách yêu mến Người.

 

Chị Têrêxa nhận ra rằng khi cầu nguyện cho các linh mục, Chị đang lao động cho một cánh đồng rộng lớn hơn, cho việc duy trì muối đất, đó chính là, bởi việc hợp tác cho sự thánh hoá các linh mục, Chị đóng góp vào sự hữu hiệu của sứ mạng các ngài.  Bởi vì một linh mục càng thánh thiện, thì thế lực của ngài càng chiếu sáng.

 

Cuối cùng, chúng ta hãy ghi nhớ rằng, khi đồng hóa với khuynh hướng căn bản của đời sống mình, Chị Thánh phải chuyên tâm vào sự cứu rỗi của các linh hồn thậm chí đến việc tế sinh chính mình, đó chính là, trên tất cả, để Thiên Chúa được yêu mến: Chỉ có một điều cho chúng ta làm trong đêm tối của cuộc sống nầy là yêu, yêu Chúa Giêsu với tất cả khả năng của con tim và cứu các linh hồn do đó Người có thể được họ yêu mến.  Ôi chúng ta hãy làm cho Chúa Giêsu được mọi người yêu mến!

 

Để yêu mến Chúa Giêsu và làm cho những người khác yêu mến Người là mục đích của trọn cuộc đời Chị Thánh, sự khát vọng liên tục những linh hồn, là mối bận tâm của Chị trong từng giây phút.  Mong cho điều nầy cũng đúng với chúng ta!  Đức ái chỉ chân thật khi nó bao bọc các linh hồn cũng như Thiên Chúa.

 

Chúa Giêsu đến giữa chúng ta để làm vinh danh Cha Người và cho Người Chúa đã hy sinh chính mình.  Nhưng Chúa cũng đến để cứu độ chúng ta và cho chúng ta Chúa đổ máu đến giọt cuối cùng.  Theo đó những ai chỉ nghĩ đến sự thánh thiện của riêng mình không thể nói rằng họ hành động trong sự tuân theo ý định của Đức Kitô và noi theo cuộc sống của Chúa Giêsu.  Thật không đủ khi sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa trong khi vẫn duy trì sự thờ ơ với số phận của rất nhiều linh hồn đang hướng tới sự trầm luân.  Nhận ra việc Thiên Chúa được ít yêu mến bao nhiêu và mức độ đau khổ và sự chết của Đức Kitô đã hiến dâng một cách vô ích, hay không sinh kết quả tối thiểu cho rất nhiều linh hồn, làm sao chúng ta có thể từ chối chuyên tâm với tất cả tâm hồn trách vụ an ủi con tim của Đấng Cứu chuộc của chúng ta bởi việc đem công nghiệp vô cùng của Chúa Giêsu Kitô đến cho đồng loại của chúng ta?

 

Nếu nhiều người đạo đức không tiến bộ trong cuộc sống thiêng liêng, đó không phải là vì họ đã thường xuyên thiếu sót trong đức ái sao?  Họ không thích thú đến phần rỗi của những người khác.  Họ không có nhiệt tâm cho các linh hồn.  Một sự thực hành đức ái càng hoàn hảo, thì sự tận hiến cho sự cứu rỗi các linh hồn càng lớn lao sẽ giúp họ thoát khỏi sự yêu mình và quên đi lợi ích riêng tư.  Bởi cách thức đó họ sẽ tiến tới trong tình yêu của Thiên Chúa và củng cố sự kết hiệp của họ với Người.

(Back to Home / Trở Về Trang Chủ)

(Top / Đầu Trang Chương VI)

<<=== Trở Về Chương I   

<<=== Trở Về Chương II   

<<=== Trở Về Chương III   

<<=== Trở Về Chương IV 

<<=== Trở Về Chương V                                        

Tiếp Theo Chương VII ===>>